NHỮNG ĐIỂM CẦN LƯU Ý VỀ CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ XÂY DỰNG CÁ NHÂN TỪ 01/07/2026
Từ ngày 01/07/2026, Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 và Nghị định 212/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực, mang đến nhiều thay đổi trong quy định về chứng chỉ hành nghề xây dựng cá nhân. Đáng chú ý là việc bỏ thi sát hạch, chuyển sang đánh giá hồ sơ kinh nghiệm, đồng thời điều chỉnh phạm vi chức danh phải có chứng chỉ và điều kiện hành nghề.
Những quy định này ảnh hưởng trực tiếp đến kỹ sư thiết kế, tư vấn giám sát và các cá nhân đảm nhận chức danh chuyên môn trong hoạt động xây dựng.
1. Điều chỉnh các chức danh yêu cầu chứng chỉ hành nghề
Theo Điều 28 Nghị định 212/2026/NĐ-CP, việc cấp chứng chỉ hành nghề tập trung vào 04 nhóm lĩnh vực chính gồm:
- Khảo sát xây dựng: Khảo sát địa hình, khảo sát địa chất công trình.
- Lập quy hoạch đô thị và nông thôn.
- Thiết kế xây dựng: Thiết kế xây dựng công trình, thiết kế cơ - điện công trình; Trong đó, thiết kế kiến trúc công trình thực hiện theo quy định của pháp luật về kiến trúc.
- Giám sát thi công xây dựng: Giám sát công tác xây dựng và lắp đặt thiết bị công trình.
Đối với các chức danh khác, quy định mới phân biệt giữa yêu cầu chứng chỉ hành nghề và điều kiện năng lực, kinh nghiệm. Không tiếp tục cấp chứng chỉ hành nghề quản lý dự án và định giá xây dựng. Chức danh giám đốc quản lý dự án và chỉ huy trưởng công trường được xem xét theo điều kiện năng lực, kinh nghiệm tương ứng. Riêng yêu cầu về chứng chỉ đối với chức danh chủ trì xác định, thẩm tra và quản lý chi phí được tạm thời điều chỉnh theo Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP, có hiệu lực đến hết ngày 28/02/2027.
2. Bỏ thi sát hạch, chuyển sang đánh giá kinh nghiệm thực tế
Một trong những thay đổi đáng chú ý là không còn tổ chức thi sát hạch khi cấp mới hoặc cấp chuyển đổi chứng chỉ hành nghề. Thay vào đó, Hội đồng xét cấp đánh giá hồ sơ dựa trên điều kiện chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp của cá nhân.
Kinh nghiệm được xem xét thông qua công việc và công trình, dự án cá nhân đã tham gia, phù hợp với lĩnh vực và hạng chứng chỉ đề nghị cấp. Vì vậy, tài liệu chứng minh vai trò thực hiện công việc và kinh nghiệm thực tế trở thành căn cứ quan trọng trong quá trình xét cấp.
3. Hình thức và quản lý chứng chỉ điện tử
Từ 01/07/2026, kết quả giải quyết thủ tục cấp chứng chỉ hành nghề được cấp, trả dưới dạng điện tử và gắn với mã định danh năng lực hoạt động xây dựng của cá nhân. Kết quả điện tử có giá trị pháp lý như bản giấy; cá nhân có thể yêu cầu nhận chứng chỉ bản giấy nếu có nhu cầu.
Mỗi cá nhân được cấp một mã số chứng chỉ hành nghề gồm 08 chữ số, được gắn và liên kết với mã định danh cá nhân trên Hệ thống thông tin về hoạt động xây dựng. Mã số này không thay đổi khi thực hiện cấp mới, cấp lại hoặc cấp chuyển đổi.
4. Thẩm quyền cấp chứng chỉ hành nghề
Theo Điều 31 Nghị định 212/2026/NĐ-CP, UBND cấp tỉnh tổ chức thực hiện việc cấp chứng chỉ hành nghề cho cá nhân. Tùy tình hình thực tế, UBND cấp tỉnh có thể phân cấp hoặc ủy quyền thẩm quyền cấp theo quy định. Theo cơ chế mới, thẩm quyền cấp được thực hiện bởi cơ quan nhà nước theo phân cấp, ủy quyền; không còn giao tổ chức xã hội - nghề nghiệp thực hiện việc cấp như cơ chế trước đây.
5. Điều kiện về trình độ và kinh nghiệm nghề nghiệp
Cá nhân đề nghị cấp chứng chỉ vẫn phải đáp ứng yêu cầu về chuyên môn đào tạo, thời gian kinh nghiệm và kinh nghiệm thực hiện công việc phù hợp với lĩnh vực, hạng đăng ký. Thời gian kinh nghiệm tối thiểu được quy định như sau:

Ngoài thời gian kinh nghiệm, cá nhân còn phải đáp ứng yêu cầu về vai trò tham gia và quy mô, cấp công trình hoặc dự án tương ứng với từng lĩnh vực. Kinh nghiệm nghề nghiệp phù hợp được xem xét trong vòng 10 năm gần nhất; trường hợp sử dụng kinh nghiệm quá thời hạn này, cá nhân có thể đề nghị cấp thấp hơn một hạng theo quy định.
6. Một số trường hợp được miễn chứng chỉ hành nghề
Nghị định 212/2026/NĐ-CP quy định một số công việc không yêu cầu chứng chỉ hành nghề, tiêu biểu như: thiết kế, thẩm tra thiết kế sơ bộ trong báo cáo nghiên cứu tiền khả thi; thiết kế, thẩm tra, giám sát hệ thống thông tin liên lạc, viễn thông; một số công việc hoàn thiện không ảnh hưởng đến kết cấu chịu lực; và các hoạt động xây dựng đối với công viên cây xanh, công trình chiếu sáng công cộng, đường cáp truyền dẫn tín hiệu viễn thông.
Việc miễn chứng chỉ chỉ áp dụng trong phạm vi các trường hợp được quy định, không đồng nghĩa với việc cá nhân được miễn các yêu cầu chuyên môn khác.
7. Hiệu lực và giá trị sử dụng của chứng chỉ đã cấp
Chứng chỉ hành nghề cấp mới theo quy định hiện hành có thời hạn 10 năm. Đối với chứng chỉ đã được cấp theo Luật Xây dựng 2014, cá nhân được tiếp tục sử dụng đúng lĩnh vực và phạm vi ghi trên chứng chỉ đến khi hết hạn, trừ trường hợp bị thu hồi theo quy định.
Cần lưu ý
Với cơ chế mới, cá nhân cần chủ động lưu trữ hồ sơ chứng minh quá trình công tác, vai trò tham gia và kinh nghiệm tại các công trình, dự án. Đây là những tài liệu quan trọng khi đề nghị cấp chứng chỉ, đặc biệt đối với trường hợp cấp mới hoặc điều chỉnh hạng.
Ngoài ra, cá nhân cần theo dõi thời hạn chứng chỉ hiện có và đối chiếu phạm vi hành nghề với công việc thực tế để bảo đảm đáp ứng các điều kiện theo quy định.